KHÁI NIỆM
I - Thiền quán là nói chung cho tất cả
các phương pháp (pháp môn) nhiếp tâm vào Định.
Các pháp môn đó có thể là theo dơi (quán)
Hơi Thở, Niệm Phật, Niệm Chú, Khán Thoại
Đầu, Quán Lư Bát Nhă, Tri Vọng (theo dơi Tâm), Minh Sát
Tuệ...
Đạo Phật được xem
như một cây. Trong đó:
– Rễ cái tượng trưng cho ḷng tôn
kính Phật và lư tưởng giải thoát.
– Những rễ phụ tượng
trưng cho những tâm hạnh Đạo Đức.
– Thân cây tượng trưng cho
phước tích lũy được do làm lợi ích cho
chúng sinh.
– Các cành nhánh tượng trưng cho các pháp
môn tu hành.
– Vô số lá tượng trưng cho Ba ngh́n
oai nghi tám muôn tế hạnh.
– Hoa tượng trưng cho sức
Định.
– Và quả tượng trưng cho Tuệ
giải thoát.
Như vậy, điều đầu tiên
của một đệ tử Phật là phải có ḷng tôn
kính Phật sâu sắc cũng như có một ư niệm rơ
ràng về mục tiêu giải thoát.
Kế theo, người đệ tử
Phật phải tu tập vô số những tâm hạnh
Đạo Đức như Từ Bi, khiêm hạ, nhẫn
nhục, chân thật, b́nh đẳng, trầm tĩnh,
vị tha...
Do những Đạo Đức này mà
người đệ tử Phật làm vô số
điều lợi ích cho chúng sinh và tích lũy
được vô lượng phước để
chuẩn bị cho công phu Thiền định tiếp theo.
Thiếu phước, không một ai có thể nhiếp tâm
vào Định được. Ngày xưa khi một Tỳ
kheo đắc Alahán, Đức Phật luôn luôn cho biết
nguyên nhân ban đầu là vị này đă gieo một duyên
phước với một vị Thánh nào đó trong quá
khứ. C̣n chúng ta ngày nay phải lấy tất cả chúng
sinh làm phước điền, nghĩa là phải
thương yêu và làm lợi ích cho chúng sinh một cách
triệt để vô điều kiện và không giới
hạn.
Càng sống vị tha chừng nào, chúng ta
càng dễ vào Định chừng nấy.
Có tất cả những điều trên
rồi th́ tùy duyên mỗi người sẽ theo một pháp
môn. Điều chúng ta cần lưu ư là KHÔNG CÓ MỘT PHÁP
MÔN NÀO ĐẦY ĐỦ TẤT CẢ ƯU
ĐIỂM.
Mỗi Pháp môn hay ở mặt này và dở
ở mặt khác. V́ thế việc độc tôn một
pháp môn nào là tuyệt đối thù thắng chỉ là
sự hiểu lầm và gây chia rẽ trong Phật pháp.
Đến khi nhờ một pháp môn (sau khi
đă có các căn bản phía trước) th́ người
đệ tử Phật sẽ tỏa ra bên ngoài những
chiếc lá oai nghi tế hạnh giống hệt nhau, dù
họ tu những pháp môn khác nhau. Những phong cách đó
được kể ra như là thái độ hiền
lành, trầm tĩnh, độ lượng, ung dung,
đĩnh đạc, chân thành, sáng suốt, kiên nhẫn và
đôi khi khôi hài...
Càng tu đúng, mọi người càng
giống nhau đến kỳ lạ, dù trước đây
họ khác nhau về mọi thứ. Những phong cách đó
đi lần về phía giống như Đức Phật
và các vị Alahán. Nhưng Đức Phật là sự thành
tựu oai nghi tuyệt đối hoàn hảo. Nơi
Phật dù một cái cất chân, đưa mắt, cất
tay... tất cả đều đẹp đẽ, thanh
thoát và đầy oai lực.
V́ thế, những trường hợp
biểu lộ phong cách quái đản, kỳ cục,
bừa băi, phóng túng... đều không nên được xem
là khuôn mẫu.
II - Các mức Định th́ chúng ta vẫn
lấy Bốn Mức Thiền làm tiêu chuẩn mà
Đức Phật nhắc đi nhắc lại măi trong
rất nhiều bài kinh. Thậm chí, trước khi nhập
Niết Bàn, Đức Phật mấy lần xuất
nhập các từng mức Thiền định như là
một Di Ngôn không lời cuối cùng cho hậu thế.
Trước Đức Phật, nhiều
Đạo Sĩ Ấn Độ cũng đạt
được các mức Định khá sâu và t́m thấy
một cơi Tâm vi diệu, rỗng rang, sáng suốt, phủ
trùm mênh mông. Họ dừng lại ở đó, tôn thờ
cái Tâm đó là tuyệt đối, là Chân Ngă, là Đại
Ngă. Đức Phật cũng học với các Đạo
Sĩ đó và cũng thành tựu như vậy, nhưng
Ngài, với trí tuệ của một vị Phật
tương lai, đă cảm thấy cái tâm đó chưa
phải là tận cùng tuyệt đối, nên đă bỏ
đi tự t́m lấy cái c̣n lại.
Dưới cội Bồ Đề,
Phật cũng nhập trở lại các mức Thiền
định và cuối cùng vượt qua cái mà các
Đạo Sĩ Ấn Độ không vượt qua
nỗi, đó là Ngă Chấp.
Phật đă cảnh giác điều này qua
sự phân biệt về 3 loại chấp ngă :
– Thô phù Ngă Chấp : chấp thân này là
Thật Ta, đó là cái chấp thô thiển, cạn cợt nhất
của phàm phu.
– Ư sở thành Ngă Chấp : chấp tư
tưởng là Thật Ta, đó là cái chấp của
người có trí thức văn hóa, cuả các triết gia.
– Vô Sắc Ngă Chấp : ngoại đạo
Ấn Độ tu tập Thiền định đạt
được Định Vô Sắc với Tâm rỗng
rang, sáng suốt, phủ trùm và cho đó là Đại Ngă.
Rồi đến khi Phật nhập
Niết Bàn, các vị Alahán lần lượt ra đi,
những đệ tử Phật về sau này không
đủ sức vượt qua chấp ngă và do đó phát
sinh 2 trường hợp:
– Một, một số vị cũng
dừng lại tại đó, tôn thờ cái trạng thái Tâm
ḿnh đă chứng được là bằng với
Phật, là tuyệt đối chân thật.
– Hai, một số vị khác tuy không
thể tiến lên xa hơn, nhưng vẫn cho rằng
trạng thái tâm ḿnh đă chứng được vẫn
c̣n tiềm tàng cái chấp ngă sâu kín.
Trong hai trường hợp trên,
trường hợp thứ nhất là rơi trở
lại kiến giải của Ngoại Đạo Ấn
Độ thời Đức Phật; c̣n trường
hợp thứ hai là vẫn đi đúng đường
của Phật.
Ngày hôm nay, khi tiêu chuẩn hóa lại con
đường thực tập Thiền quán, chúng ta vẫn
phải chọn cái mục tiêu mà ngày xưa Đức
Phật đă nhắm đến, đă đạt
được, đă vượt hơn các ngoại
đạo đương thời, đó là VÔ NGĂ.
Dù chúng ta có đạt được các
kết quả trong Thiền định như nhiếp
được tâm, xuất hiện nhiều trạng thái
mới mẻ, an lạc hơn ngày xưa, sáng suốt
hơn lúc trước, th́ vẫn phải cảnh giác
rằng cái Tâm đó vẫn c̣n chứa đựng ngă
chấp mănh liệt và đầy nguy hiểm. Những phiền
năo chỉ tạm yên nghỉ đôi chút chứ chưa
được đoạn trừ hẳn. Nếu có
được sự kích động của kiêu mạn th́
vô số các phiền năo khác như tham lam, ô nhiễm, sân
hận... sẽ trổi dậy như thác đổ sóng xô,
và cuốn chúng ta đi vào đọa lạc. (xin xem Tâm Lư
Đạo Đức, Chơn Quang)
III - Sau này khi loài người tiến
bộ hơn, họ sẽ biết rằng Thiền
định là phương tiện để đạt
được hạnh phúc, Trí Tuệ. Thiền
định cũng làm cho loài người trở thành
một “loài người mới” cao cấp hơn v́ năng
lực của tâm được phát triển và sử
dụng với vô số điều kỳ diệu. Lúc
đó, Thiền sẽ được đem ra mổ
xẻ, phân tích, thí nghiệm, hệ thống hóa, tiêu
chuẩn hóa và sẽ trở thành một môn khoa học
thực nghiệm với nhiều nguyên lư, định lư. Ở
mức độ thấp, Thiền được xem là
một môn thể dục dưỡng sinh, vệ sinh
thần kinh giúp con người giải tỏa bớt
sự căng thẳng trong cuộc sống.
Ở mức độ cao, Thiền
được xem là sự thực hành một triết lư
của Hạnh Phúc, v́ sự b́nh an nội tâm là hạnh phúc
thù thắng hơn bất cứ tṛ vui nào của thế
gian.
Ở mức độ khác, Thiền
được xem là ch́a khóa để con người
tăng thêm khả năng của ḿnh về nhiều
phương diện, trong đó năng lực tâm linh,
khả năng phán đoán bằng trực giác, những phép
lạ bắt đầu được t́m hiểu nghiêm
túc.
Đó là điều sẽ xảy ra.
Nhưng việc đó đến sớm hay muộn
đều do từng người chúng ta có nỗ lực
thực hành Thiền định từ bây giờ hay không.
Đức Phật là một biểu
tượng tuyệt vời về công phu thực tập
Thiền Quán. Chúng ta là đệ tử Phật th́ phải
hết sức thực hành và hệ thống hóa, tiêu
chuẩn hóa lại để đem Thiền tặng cho
nhân loại. Chúng ta sẽ đem đến cho nhân loại
một loại Thiền đầy tính khoa học và khách
quan, không hạn cuộc bởi h́nh thức tông phái hay pháp
môn.
Một ngày nào đó, các trẻ em
đến trường đều được học
về Thiền và học về Luật Nhân Quả
Nghiệp Báo. Đó là ngày mà thế giới trở thành thiên
đường như các vị Thánh từng mơ
ước.
Page 1
Goto Page :
1
2
3
4
5
6
7
|