12/3/2008


  

KHÁI NIỆM

I - Thiền quán là nói chung cho tất cả các phương pháp (pháp môn) nhiếp tâm vào Định.

Các pháp môn đó có thể là theo dơi (quán) Hơi Thở, Niệm Phật, Niệm Chú, Khán Thoại Đầu, Quán Lư Bát Nhă, Tri Vọng (theo dơi Tâm), Minh Sát Tuệ...

Đạo Phật được xem như một cây. Trong đó:

– Rễ cái tượng trưng cho ḷng tôn kính Phật và lư tưởng giải thoát.

– Những rễ phụ tượng trưng cho những tâm hạnh Đạo Đức.

– Thân cây tượng trưng cho phước tích lũy được do làm lợi ích cho chúng sinh.

– Các cành nhánh tượng trưng cho các pháp môn tu hành.

– Vô số lá tượng trưng cho Ba ngh́n oai nghi tám muôn tế hạnh.

– Hoa tượng trưng cho sức Định.

– Và quả tượng trưng cho Tuệ giải thoát.

Như vậy, điều đầu tiên của một đệ tử Phật là phải có ḷng tôn kính Phật sâu sắc cũng như có một ư niệm rơ ràng về mục tiêu giải thoát.

Kế theo, người đệ tử Phật phải tu tập vô số những tâm hạnh Đạo Đức như Từ Bi, khiêm hạ, nhẫn nhục, chân thật, b́nh đẳng, trầm tĩnh, vị tha...

Do những Đạo Đức này mà người đệ tử Phật làm vô số điều lợi ích cho chúng sinh và tích lũy được vô lượng phước để chuẩn bị cho công phu Thiền định tiếp theo. Thiếu phước, không một ai có thể nhiếp tâm vào Định được. Ngày xưa khi một Tỳ kheo đắc Alahán, Đức Phật luôn luôn cho biết nguyên nhân ban đầu là vị này đă gieo một duyên phước với một vị Thánh nào đó trong quá khứ. C̣n chúng ta ngày nay phải lấy tất cả chúng sinh làm phước điền, nghĩa là phải thương yêu và làm lợi ích cho chúng sinh một cách triệt để vô điều kiện và không giới hạn.

Càng sống vị tha chừng nào, chúng ta càng dễ vào Định chừng nấy.

Có tất cả những điều trên rồi th́ tùy duyên mỗi người sẽ theo một pháp môn. Điều chúng ta cần lưu ư là KHÔNG CÓ MỘT PHÁP MÔN NÀO ĐẦY ĐỦ TẤT CẢ ƯU ĐIỂM.

Mỗi Pháp môn hay ở mặt này và dở ở mặt khác. V́ thế việc độc tôn một pháp môn nào là tuyệt đối thù thắng chỉ là sự hiểu lầm và gây chia rẽ trong Phật pháp.

Đến khi nhờ một pháp môn (sau khi đă có các căn bản phía trước) th́ người đệ tử Phật sẽ tỏa ra bên ngoài những chiếc lá oai nghi tế hạnh giống hệt nhau, dù họ tu những pháp môn khác nhau. Những phong cách đó được kể ra như là thái độ hiền lành, trầm tĩnh, độ lượng, ung dung, đĩnh đạc, chân thành, sáng suốt, kiên nhẫn và đôi khi khôi hài...

Càng tu đúng, mọi người càng giống nhau đến kỳ lạ, dù trước đây họ khác nhau về mọi thứ. Những phong cách đó đi lần về phía giống như Đức Phật và các vị Alahán. Nhưng Đức Phật là sự thành tựu oai nghi tuyệt đối hoàn hảo. Nơi Phật dù một cái cất chân, đưa mắt, cất tay... tất cả đều đẹp đẽ, thanh thoát và đầy oai lực.

V́ thế, những trường hợp biểu lộ phong cách quái đản, kỳ cục, bừa băi, phóng túng... đều không nên được xem là khuôn mẫu.

 

II - Các mức Định th́ chúng ta vẫn lấy Bốn Mức Thiền làm tiêu chuẩn mà Đức Phật nhắc đi nhắc lại măi trong rất nhiều bài kinh. Thậm chí, trước khi nhập Niết Bàn, Đức Phật mấy lần xuất nhập các từng mức Thiền định như là một Di Ngôn không lời cuối cùng cho hậu thế.

Trước Đức Phật, nhiều Đạo Sĩ Ấn Độ cũng đạt được các mức Định khá sâu và t́m thấy một cơi Tâm vi diệu, rỗng rang, sáng suốt, phủ trùm mênh mông. Họ dừng lại ở đó, tôn thờ cái Tâm đó là tuyệt đối, là Chân Ngă, là Đại Ngă. Đức Phật cũng học với các Đạo Sĩ đó và cũng thành tựu như vậy, nhưng Ngài, với trí tuệ của một vị Phật tương lai, đă cảm thấy cái tâm đó chưa phải là tận cùng tuyệt đối, nên đă bỏ đi tự t́m lấy cái c̣n lại.

Dưới cội Bồ Đề, Phật cũng nhập trở lại các mức Thiền định và cuối cùng vượt qua cái mà các Đạo Sĩ Ấn Độ không vượt qua nỗi, đó là Ngă Chấp.

Phật đă cảnh giác điều này qua sự phân biệt về 3 loại chấp ngă :

– Thô phù Ngă Chấp : chấp thân này là Thật Ta, đó là cái chấp thô thiển, cạn cợt nhất của phàm phu.

– Ư sở thành Ngă Chấp : chấp tư tưởng là Thật Ta, đó là cái chấp của người có trí thức văn hóa, cuả các triết gia.

– Vô Sắc Ngă Chấp : ngoại đạo Ấn Độ tu tập Thiền định đạt được Định Vô Sắc với Tâm rỗng rang, sáng suốt, phủ trùm và cho đó là Đại Ngă.

Rồi đến khi Phật nhập Niết Bàn, các vị Alahán lần lượt ra đi, những đệ tử Phật về sau này không đủ sức vượt qua chấp ngă và do đó phát sinh 2 trường hợp:

– Một, một số vị cũng dừng lại tại đó, tôn thờ cái trạng thái Tâm ḿnh đă chứng được là bằng với Phật, là tuyệt đối chân thật.

– Hai, một số vị khác tuy không thể tiến lên xa hơn, nhưng vẫn cho rằng trạng thái tâm ḿnh đă chứng được vẫn c̣n tiềm tàng cái chấp ngă sâu kín.

Trong hai trường hợp trên, trường hợp thứ nhất là rơi trở lại kiến giải của Ngoại Đạo Ấn Độ thời Đức Phật; c̣n trường hợp thứ hai là vẫn đi đúng đường của Phật.

Ngày hôm nay, khi tiêu chuẩn hóa lại con đường thực tập Thiền quán, chúng ta vẫn phải chọn cái mục tiêu mà ngày xưa Đức Phật đă nhắm đến, đă đạt được, đă vượt hơn các ngoại đạo đương thời, đó là VÔ NGĂ.

Dù chúng ta có đạt được các kết quả trong Thiền định như nhiếp được tâm, xuất hiện nhiều trạng thái mới mẻ, an lạc hơn ngày xưa, sáng suốt hơn lúc trước, th́ vẫn phải cảnh giác rằng cái Tâm đó vẫn c̣n chứa đựng ngă chấp mănh liệt và đầy nguy hiểm. Những phiền năo chỉ tạm yên nghỉ đôi chút chứ chưa được đoạn trừ hẳn. Nếu có được sự kích động của kiêu mạn th́ vô số các phiền năo khác như tham lam, ô nhiễm, sân hận... sẽ trổi dậy như thác đổ sóng xô, và cuốn chúng ta đi vào đọa lạc. (xin xem Tâm Lư Đạo Đức, Chơn Quang)

 

III - Sau này khi loài người tiến bộ hơn, họ sẽ biết rằng Thiền định là phương tiện để đạt được hạnh phúc, Trí Tuệ. Thiền định cũng làm cho loài người trở thành một “loài người mới” cao cấp hơn v́ năng lực của tâm được phát triển và sử dụng với vô số điều kỳ diệu. Lúc đó, Thiền sẽ được đem ra mổ xẻ, phân tích, thí nghiệm, hệ thống hóa, tiêu chuẩn hóa và sẽ trở thành một môn khoa học thực nghiệm với nhiều nguyên lư, định lư. Ở mức độ thấp, Thiền được xem là một môn thể dục dưỡng sinh, vệ sinh thần kinh giúp con người giải tỏa bớt sự căng thẳng trong cuộc sống.

Ở mức độ cao, Thiền được xem là sự thực hành một triết lư của Hạnh Phúc, v́ sự b́nh an nội tâm là hạnh phúc thù thắng hơn bất cứ tṛ vui nào của thế gian.

Ở mức độ khác, Thiền được xem là ch́a khóa để con người tăng thêm khả năng của ḿnh về nhiều phương diện, trong đó năng lực tâm linh, khả năng phán đoán bằng trực giác, những phép lạ bắt đầu được t́m hiểu nghiêm túc.

Đó là điều sẽ xảy ra. Nhưng việc đó đến sớm hay muộn đều do từng người chúng ta có nỗ lực thực hành Thiền định từ bây giờ hay không.

Đức Phật là một biểu tượng tuyệt vời về công phu thực tập Thiền Quán. Chúng ta là đệ tử Phật th́ phải hết sức thực hành và hệ thống hóa, tiêu chuẩn hóa lại để đem Thiền tặng cho nhân loại. Chúng ta sẽ đem đến cho nhân loại một loại Thiền đầy tính khoa học và khách quan, không hạn cuộc bởi h́nh thức tông phái hay pháp môn.

Một ngày nào đó, các trẻ em đến trường đều được học về Thiền và học về Luật Nhân Quả Nghiệp Báo. Đó là ngày mà thế giới trở thành thiên đường như các vị Thánh từng mơ ước.


Page 1


Goto Page : 1  2  3  4  5  6  7 
 Content
Giải Tŕnh
Tạp Bút
Năm Ấm
Nhân Quả
Cặn Bả Kư Ức
Nghiệp Và Kết Quả
Trong Lẽ Đạo Đức
Trở Lại Thiên Đường

Tâm Lư Đạo Đức
Thoát Ṿng Tục Lụy
 Tâm Nguyện Thành Đạo
 Đạo Phật Đoàn Kết
 Hoạt Động Từ Thiện
Kinh Cầu Siêu
 Kịch Diêm Vương
 Kỷ Yêu Thiên Khánh
 Coi Bói Kịch
 Đạo Phật Và Xă Hội
 Những Bài Kinh Tụng
 Cầu Nguyện Cho Quê Hương
 Tượng Phật Bị Phá
101 Câu Chuyện Thiện
Bước Đi Của Thiên Thần
Câu Chuyện Đời
Cây Đa Chùa Cũ
Đi Con Đường Khác
Đường Lên Núi Linh
Giấc Mộng Đầu
Giả Dạng
Gốc Tùng
Ḥang Đế Một Ngày
Hữu Thân Hữu Khổ
Mái Chùa Xưa
Màu Áo Nâu Sồng
Hoang De Mot Ngay
Huu Than Huu Kho
Mai Chua Xua
Mau Ao Nau Song
Nghề Đuổi Quạ
Người Quét Chợ
Nụ Cười Thiền
Ông Già Áo Lam
Pháp Sư Tí Hon
Phỉ Báng Phật Thánh
Quét Lá
Sự Thiện Chiếu
Thiên Thần Quét Lá
Thức Tỉnh
Tiếng Chuông Triêu Mộ
Vô Ngă


©2000 ChuaPhatQuang.net
All rights reserved.